Người theo dõi

Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2021

 

Bệnh học suy tim

Định nghĩa

Suy tim là trạng thái bệnh lý, trong đó cơ tim mất khả năng cung cấp máu theo nhu cầu cơ thể, lúc đầu khi gắng sức rồi sau đó cả khi nghỉ ngơi.

Quan niệm này đúng cho đa số trường hợp, nhưng chưa giải thích được những trường hợp suy tim có cung lượng tim cao và cả trong giai đoạn đầu của suy tim mà cung lượng tim còn bình thường.

Dịch tễ học

Tại châu Âu trên 500 triệu dân, tần suất suy tim ước lượng từ 0,4 - 2% nghĩa là có từ 2 triệu đến 10 triệu người suy tim. Tại Hoa Kỳ, con số ước lượng là 2 triệu người suy tim trong đó 400.000 ca mới mỗi năm. Tần suất chung là khoảng 1-3% dân số trên thế giới và trên 5% nếu tuổi trên 75. Tại nước ta chưa có thống kê chính xác, nhưng nếu dựa vào số dân 70 triệu người thì có đến 280.000 - 4.000.000 người suy tim cần điều trị.

Nguyên nhân

Suy tim trái

Tăng huyết áp động mạch, hở hay hẹp van động mạch chủ đơn thuần hay phối hợp, nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim do nhiễm độc, nhiễm trùng, các bệnh cơ tim, cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất, cơn cuồng động nhĩ, rung nhĩ nhanh, cơn nhịp nhanh kịch phát thất, blốc nhĩ thất hoàn toàn, hẹp eo động mạch chủ, tim bẩm sinh, còn ống động mạch, thông liên thất.

Suy tim phải

Hẹp van 2 lá là nguyên nhân thường gặp nhất, tiếp đến là bệnh phổi mạn như: Hen phế quản, viêm phế quản mạn, lao xơ phổi, giãn phế quản, nhồi máu phổi gây tâm phế cấp. Gù vẹo cột sống, dị dạng lồng ngực, bệnh tim bẩm sinh như hẹp động mạch phổi, tứ chứng Fallot, thông liên nhĩ, thông liên thất giai đoạn muộn, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, tổn thương van 3 lá, ngoài ra một số nguyên nhân ít gặp như u nhầy nhĩ trái. Trong trường hợp tràn dịch màng ngoài tim và co thắt màng ngoài tim, triệu chứng lâm sàng giống suy tim phải nhưng thực chất là suy tâm trương.

Suy tim toàn bộ

Ngoài 2 nguyên nhân trên dẫn đến suy tim toàn bộ, còn gặp các nguyên nhân sau: bệnh cơ tim giãn, suy tim toàn bộ do cường giáp trạng, thiếu Vitamine B1, thiếu máu nặng.

Cơ chế bệnh sinh

Chức năng huyết động của tim phụ thuộc vào 4 yếu tố: Tiền gánh, hậu gánh, sức co bóp cơ tim và nhịp tim.

Tiền gánh: Là độ kéo dài của các sợi cơ tim sau tâm trương, tiền gánh phụ thuộc vào lượng máu dồn về thất và được thể hiện bằng thể tích và áp lực máu trong tâm thất thì tâm trương.

Hậu gánh: Hậu gánh là sức cản mà tim gặp phải trong quá trình co bóp tống máu, đứng hàng đầu là sức cản ngoại vi, hậu gánh tăng thì tốc độ các sợi cơ tim giảm; do đó thể tích tống máu trong thì tâm thu giảm.

Sức co bóp cơ tim: Sức co bóp cơ tim làm tăng thể tích tống máu trong thì tâm thu, sức co bóp cơ tim chịu ảnh hưởng của thần kinh giao cảm trong cơ tim và lượng catécholamine lưu hành trong máu.

Tần số tim: Tần số tim tăng sẽ tăng cung lượng tim, tần số tim chịu ảnh hưởng của thần kinh giao cảm trong tim và lượng Catécholamine lưu hành trong máu. Suy tuần hoàn xảy ra khi rối loạn các yếu 1,2 và 4, suy tim xảy ra khi thiếu yếu tố 3.

Trong suy tim, cung lượng tim giảm, giai đoạn đầu sẽ có tác dụng bù trừ:

Máu ứ lại tâm thất làm các sợi cơ tim bị kéo dài ra, tâm thất giãn, sức tống máu mạnh hơn nhưng đồng thời cũng tăng thể tích cuối tâm trương.

Dày thất do tăng đường kính các tế bào, tăng số lượng ti lạp thể, tăng số đơn vị co cơ mới đánh dấu bắt đầu sự giảm sút chức năng co bóp cơ tim. Khi các cơ chế bù trừ bị vượt quá, suy tim trở nên mất bù và các triệu chứng lâm sàng sẽ xuất hiện.

Chẩn đoán

Suy tim trái

Triệu chứng cơ năng:

Có 2 triệu chứng chính: Khó thở và ho. Khó thở là triệu chứng thường gặp nhất. Lúc đầu khó thở khi gắng sức, về sau từng cơn, có khi khó thở đột ngột, có khi khó thở tăng dần; ho hay xảy ra vào ban đêm khi bệnh nhân gắng sức, ho khan, có khi có dàm lẫn máu.

Triệu chứng thực thể:

Khám tim: Nhìn thấy mỏm tim lệch về phía bên trái, nghe được tiếng thổi tâm thu nhẹ ở mỏm do hở van 2 lá cơ năng.

Khám phổi: Nghe được ran ẩm ở 2 đáy phổi. Trong trường hợp cơn hen tim có thể nghe được nhiều ran rít, ran ngáy.

Huyết áp: HATT bình thường hay giảm, HATTr bình thường.

Cận lâm sàng:

X quang: Phim thẳng tim to, nhất là các buồng tim trái, nhĩ trái lớn hơn trong hở 2 lá, thất trái giãn với cung dưới trái phồng và dày ra, phổi mờ nhất là vùng rốn phổi.

Điện tâm đồ: Tăng gánh tâm trương hay tâm thu thất trái. Trục trái, dày thất trái.

Siêu âm tim: Kích thước buồng thất trái giãn to, siêu âm còn cho biết được chức năng thất trái và nguyên nhân của suy tim trái như hở van động mạch chủ...vv.

Thăm dò huyết động: Nếu có điều kiện thông tim, chụp mạch đánh giá chính xác mức độ nặng nhẹ của một số bệnh van tim.

Suy tim phải

Triệu chứng cơ năng:

Khó thở nhiều hay ít tùy theo mức độ suy tim, khó thở thường xuyên, nhưng không có cơn khó thở kịch phát như suy tim như suy tim trái. Xanh tím nhiều hay ít tùy nguyên nhân và mức độ của suy tim phải.

Dấu chứng thực thể:

Chủ yếu là ứ máu ngoại biên với gan to, bờ tù, mặt nhẵn, ấn đau tức, điều trị tích cực bằng trợ tim và lợi tiểu gan nhỏ lại, hết điều trị gan to ra gọi là “gan đàn xếp”, nếu gan bị ứ máu lâu ngày gan không nhỏ lại được gọi là “xơ gan tim” với gan bờ sắc, mật độ chắc. Tĩnh mạch cổ nổi, phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+) ở tư thế 450. Áp lực tĩnh mạch trung ương và tĩnh mạch ngoại biên tăng cao.

Phù: Phù mềm lúc đầu ở 2 chi dưới về sau phù toàn thân, có thể kèm theo cổ trướng, tràn dịch màng phổi. Tiểu ít 200-300ml/ 24giờ.

Khám tim: Ngoài các dấu hiệu của nguyên nhân suy tim, ta còn nghe nhịp tim nhanh, có khi có tiếng ngựa phi phải, thổi tâm thu ở ổ van 3 lá do hở van 3 lá cơ năng hậu quả của dãn buồng thất phải. Huyết áp tâm thu bình thường, huyết áp tâm trương tăng.

Cận lâm sàng:

X quang: Trừ trường hợp suy tim phải do hẹp van động mạch phổi có đặc điểm là phổi sáng, còn lại các nguyên nhân suy tim phải khác trên phim thẳng phổi mờ, cung động mạch phổi giãn, mõm tim hếch lên do thất phải giãn. Trên phim nghiêng trái mất khoảng sáng sau xương ức.

Điện tâm đồ: Trục phải, dày thất phải.

Siêu âm tim: Thất phải giãn to, tăng áp động mạch phổi.

Thăm dò huyết động: Tăng áp lực cuối tâm trương thất phải, áp lực động mạch chủ thường tăng.

Suy tim toàn bộ

Bệnh cảnh suy tim phải thường trội hơn. Bệnh nhân khó thở thường xuyên, phù toàn thân, tĩnh mạch cổ nổi tự nhiên, áp lực tĩnh mạch tăng cao, gan to nhiều, thường có cổ trướng, tràn dịch màng phổi, huyết áp tâm thu giảm, huyết áp tâm trương tăng, Xquang tim to toàn bộ, điện tâm đồ có thể dày cả 2 thất.

Phân độ suy tim

Theo Hội Tim Mạch New York:

Độ 1: Bệnh nhân có bệnh tim nhưng không có triệu chứng cơ năng, hoạt động thể lực vẫn bình thường.

Độ 2: Các triệu chứng cơ năng chỉ xuất hiện khi gắng sức nhiều, hạn chế hoạt động thể lực.

Độ 3: Các triệu chứng cơ năng xuất hiện ngay cả khi gắng sức nhẹ, làm hạn chế hoạt động thể lực.

Độ 4: Các triệu chứng cơ năng xuất hiện thường xuyên kể cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi.

Phân độ suy tim mạn theo Trần Đỗ Trinh

Suy tim độ 1: Khó thở khi gắng sức, ho ra máu, không phù, gan không to.

Suy tim độ 2: Khó thở khi đi lại với vận tốc trung bình, khi đi phải ngừng lại để thở, phù nhẹ, gan chưa to hoặc to ít, 2cm dưới bờ sườn. Phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+) ở tư thế 450.

Suy tim độ 3: Khó thở nặng hơn hoặc giảm đi, phù toàn, gan > 3cm dưới sườn, mềm, phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+) ở tư thế 450, điều trị gan nhỏ lại hoàn toàn.

Suy tim độ 4: Khó thở thường xuyên, bệnh nhân phải ngồi dậy để thở, gan > 3cm dưới bờ sườn, mật độ chắc, bờ sắc, điều trị không đáp ứng hoặc nhỏ lại ít.

Điều trị suy tim

Digitalis

Được đưa vào sử dụng để điều trị suy tim từ lâu, hiện giờ vẫn còn được sử dụng rộng rãi. Nó có đặc tính sau:

Tăng sức co bóp cơ tim.

Làm chậm nhịp tim.

Làm giảm dẫn truyền trong tim.

Tăng tính kích thích cơ thất.

Chỉ định:

Digital có chỉ định rõ ràng trong suy tim ứ trệ có rung nhĩ. Tuy nhiên nếu là nhịp xoang thì vai trò của nó vẫn còn bị tranh cãi. Ngoài ra chỉ định khác của nó là trong các loạn nhịp trên thất như rung nhĩ, cuồng nhĩ, nhịp nhanh trên thất kịch phát kiểu Bouveret.

Chống chỉ định:

Tuyệt đối khi có nhiễm độc digital. Các chống chỉ định khác:

Bloc nhĩ thất độ 2 và 3 không có máy tạo nhịp.

Trạng thái thất cường kích thích nặng.

Bệnh cơ tim nghẽn.

Thiếu oxy.

Hạ kali máu.

Digital ít có lợi và thậm chí có thể còn nguy hiểm khi: nhồi máu cơ tim cấp (ngoại trừ nếu có cơn rung nhĩ nhanh), suy tim nhịp chậm không có máy tạo nhịp, suy tim giai đoạn cuối, tâm phế mãn, viêm màng ngoài tim co thắt, suy tim có cung lượng tim cao, các bệnh tim do quá tải chuyển hóa như nhiễm thiết huyết tố, nhiễm bột.

Tương tác thuốc:

Các thuốc sau có thể làm tăng nồng độ digoxin: erythromycin, tetracycline, quinidine, amiodarone, verapamine.

Trong điều trị suy tim mạn có hai loại hay được dùng là digoxin và digitoxin nhưng vì digoxin tác dụng nhanh, thải nhanh do đó đạt hiệu quả điều trị nhanh trong khi khó gây ngộ độc nên được ưa dùng hơn. Lưu ý là digoxin thải qua thận và digitoxin thải qua gan vì thế nếu suy thận nên dùng digitoxin trong khi suy gan thì nên dùng digoxin. Ơ phụ nữ có thai digitoxin qua được hàng rào nhau thai trong khi digoxin thì không. Trên thực tế không có một phác đồ nào hoàn toàn đúng cho mọi bệnh nhân. Liều điều trị tùy theo nhạy cảm của người bệnh với thuốc theo nguyên tắc là người già hoặc là suy tim với tim dãn rất lớn, người bệnh gầy thì phải giảm liều thuốc. Nói chung liều thông thường để điều trị tấn công là digoxin 0,25mg (2 lần / ngày trong vòng một tuần sau đó trở về liều duy trì là1/2 - 1 viên / ngày, uống cách nhật hoặc là thậm chí có thể uống hàng ngày không nghỉ tùy theo đối tượng. Đối với digitoxin bắt buộc phải nghỉ chẳng hạn uống 3 ngày nghỉ 3 ngày do thời gian nửa đời dài. Vùng điều trị của thuốc: digoxin máu 1- 2,5ng/ml, digitoxin máu 15- 35 ng/ml. Tuy nhiên đối với trẻ em vùng hiệu quả xung quanh 3 (1ng/ml khi điều trị phải theo dõi các triệu chứng ngộ độc để có thái độ xử trí kịp thời.

Chế độ nghĩ ngơi và ăn uống

Chế độ hoạt động của người bệnh tùy thuộc vào mức độ suy tim. Khi có suy tim nặng phải nghĩ ngơi tuyệt đối tại giường bệnh. Ăn nhạt là cần thiết dưới 2gam muối /ngày nếu suy tim độ I và II, dưới 0,5gam/ngày nếu suy tim độ II,IV.

Thuốc lợi tiểu

Vẫn được coi là chủ đạo trong điều trị suy tim ứ trệ. Với suy tim nhẹ thì lợi tiểu thiazide liều vừa phải cũng đủ đáp ứng tốt phối hợp với chế độ ăn nhạt. Không nhất thiết phải cho sớm thuốc lợi tiểu quai trừ phi không có đáp ứng với Thiazide. Liều thuốc Thiazide 25mg (1-4 viên / ngày, Trofurit 40 mg (2-3 viên/ ngày. Hai loại này là lợi tiểu thải muối cho nên phải cho từng đợt muối kali kèm theo (1-2g/ngày). Khi tình trạng ứ trệ nặng có thể phối hợp từng đợt với lợi tiểu giữ kali tác dụng ở ống lượn xa (Spironolactone) vì lúc đó hay có cường aldosterone thứ phát.

Thuốc dãn mạch

Các dẫn chất nitrate: được sử dụng rộng rãi nhằm giảm triệu chứng hô hấp (khó thở) của suy tim. Liều khởi đầu nhỏ sau đó tăng từ từ nhằm tránh tác dụng phụ như đau đầu. Liều điều trị đối với Isosorbide dinitrate khoảng 120mg/ngày. Tương tự có thể dùng mononitrate, trinitrine dán, molsidomine.

Các chất dãn động mạch Có tác dụng cải thiện tình trạng cung lượng thấp. Hydralazine hiệu quả nhưng nhược điểm phải dùng liều cao khó thực hiện (12 - 16 viên chia 4). Prazosine có tác dụng cũng tốt nhưng bị yếu đi khá nhanh chóng sau đó. Nói chung ngày nay các thuốc này ít được sử dụng.

Các thuốc ức chế men chuyển

Đã làm cải thiện rõ rệt tiên lượng của bệnh nhân bị suy tim. Nó không những cải thiện triệu chứng mà còn cải thiện được cả tiên lượng sống. Nguyên tắc sử dụng phải tuân theo nhằm tránh tai biến do thuốc có thể xảy ra nhất là ở những bệnh nhân đang được dùng lợi tiểu. Liều khởi đầu nhỏ (6,25mg/ngày với Catopril) sau đó tăng lên tới liều 50 - 150mg/ngày tùy theo trường hợp.

Các thuốc ức chế beta

Trước kia được xem như chống chỉ định. Tuy nhiên gần đây đã chính thức đưa vào điều  trị  suy  tim.  Các  loại  thuốc  sau  đã  được  chấp  nhận  rộng  rãi:  metoprolol, bisoprolol và nhất là Carvedilol. Sử dụng thuốc này theo nguyên tắc là cho khi suy tim đã ổn định (không dùng trong suy tim cấp), liều nhỏ tăng dần. Với Carvedilol viên 12,5mg liều khởi đầu 1/4-1/2 viên/ngày.

Các chất ức chế phosphodiesterase (Amrinone, Milrinone, Enoximone)

Cơ chế tác dụng là tăng lượng AMPc từ đó có hai tác dụng:dãn động mạch và tăng co bóp cơ tim không lệ thuộc vào các thụ thể (. Thuốc được dùng trong suy tim với biểu hiện suy huyết động nặng sau khi dùng dopamin và dobutamin không có hiệu quả.

Điều trị theo thể loại suy tim

Suy tim cấp

Bảng. Các biện pháp xử trí trong suy tim cấp.

1. Biện pháp chung

An thần bằng morphin

2. Điều chỉnh các yếu tố làm dễ

Loạn nhịp, thiếu máu, tăng huyết áp

3. Điều chỉnh thiếu oxy

Thở oxy, hô hấp hỗ trợ nếu cần.

4. Điều trị đặc hiệu

Thuốc: lợi tiểu, giãn mạch,tăng co bóp cơ tim, bóng nội động mạch chủ, phẫu thuật: thay van, đóng lỗ thông bẩm sinh.

Bảng. Các thuốc dùng trong điều trị suy tim trái cấp..

Thuốc

Cơ chế

Tác dụng sinh lý

Hiệu quả điều trị

Lợi tiểu:

*Furosemide  40-80mg  tiêm TM

 

Lợi tiểu

 

Giảm tiền gánh

 

Chống phù phổi

Dãn mạch:

*Morphin 5-10mg TM, TB, TDD.

*Trinitrin:10-150(g/phút truyền tĩnh mach hoặc các dẫn chất nitrat dạng ngậm, uống.

*Nitroprusside: 25-150(g/phút

 

Dãn tĩnh mạch

Dãn tĩnh mạch

 



Dãn tiểu động mạch  và  tĩnh mạch

 

Giảm tiền gánh

Giảm tiền gánh

 



Giảm  tiền  gánh  và hậu gánh

 

Chống phù phổi

Chống phù phổi

 

 


Chống phù phổi và tăng lưu lượng tim

Tăng co bóp cơ tim:

*Dobutamine: 250-750(g/phút

*Dopamine: 100-600(g/phút

*Digital(lanatoside C, digoxine)1 ống tĩnh mạch

 


Giống giao cảm

 


Giống giao cảm

Ưc chế bơm Na-K ATPase

 


Tăng co bóp tim

 


Tăng   co   bóp   tim, giảm hậu gánh (liều thấp), tăng hậu gánh (liều cao).

Tăng   co   bóp   tim, giảm   tiền   gánh   và hậu gánh.

 


Tăng lưu lượng tim

 


Tăng  lưu  lượng tim,  tăng  huyết áp (liều cao).

Chống   phù   phổi làm giảm áp lực ở phổi.

 Suy tim mạn tính

Các mục tiêu điều trị suy tim mạn

Giai đoạn suy tim (NYHA)

Phương pháp kinh điển

Phương pháp thay thế

Độ I

Không điều trị

Không điều trị

Độ II

- Hạn chế thể lực

- Chế độ ăn kiêng muối

- Digital

-Digital + Lợi tiểu Thiazid

- Hạn chế thể lực

- Chế độ ăn kiêng muối

- Lợi tiểu? Ức chế men chuyển?

- Lợi tiểu + ƯCMC hoặc

Lợi tiểu + giãn mạch

Độ III

- Digital + Lợi tiểu quai.

- Digital + Lợi tiểu + giãn mạch

- Lợi tiểu + ƯCMC hoặc giãn mạch

+ Digital ?  hoặc

- Lợi tiểu + ƯCMC hoặc giãn mạch

+ thuốc trợ tim?

- Chẹn bêta?

- Ghép tim.

Độ IV

- Digital + Lợi tiểu + giãn mạch

+ Thuốc trợ tim mới

- Ghép tim

 

Tai biến mạch máu não là gì? Dấu hiệu nhận biết và cách sơ cứu cơ bản

Tai biến mạch máu não là bệnh lý gây tử vong đứng top 10 thế giới theo thống kê hàng năm của tổ chức y tế thế giới WHO. Bệnh nhân tai biến nếu không được cấp cứu đúng cách và kịp thời sẽ có thể để lại những những biến chứng nghiêm trọng cho cơ thể, trong trường hợp xấu nhất có thể dẫn đến tử vong.


1. Tai biến mạch máu não là gì?

Tai biến mạch máu não là các thiếu sót thần kinh với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa xảy ra đột ngột do mạch máu não (động mạch, mao mạch và hiếm hơn là tĩnh mạch) bị vỡ hoặc tắc mà không do chấn thương sọ não. Lúc này não sẽ không được cung cấp oxy và dưỡng chất khiến các tế bào não chết dần. Thời gian càng dài thì não tổn thương càng nặng, bệnh nhân sẽ tiến gần với bờ vực tử vong thêm một bước. Các cơ quan trên cơ thể được điều khiển bởi não bộ sẽ không tiếp tục hoạt động được nữa khiến bệnh nhân bị tê liệt, không giao tiếp được,...

Có hai loại tai biến mạch máu não như sau:

Nhồi máu não

Chiếm 80% tổng số ca bệnh, nguyên nhân do lưu lượng tuần hoàn máu lên não bị hẹp hoặc tắc. Lúc này một phần não sẽ bị ngừng cung cấp máu, càng kéo dài thời gian sẽ khiến khu vực đó bị hoại tử. Khi bệnh nhân bị tai biến do nhồi máu não có thể cấp cứu trong khoảng 4 tiếng từ khi phát bệnh. Tuy nhiên, đưa bệnh nhân đến viện càng sớm càng tốt để hạn chế tổn thương não, giúp giảm đi những nguy cơ để lại di chứng cho cơ thể.

Xuất huyết não

Chỉ chiếm 20% tổng số ca bệnh, tuy nhiên tử lệ tử vong cực kỳ cao, nguyên nhân do máu tràn vào mô và làm tổn thương đến não gây nên tình trạng phù não. Lúc này áp lực các mô xung quanh tăng lên, hậu quả sẽ giết chết các tế bào não và vỡ mạch não. Thời gian “vàng” dùng để cấp cứu bệnh nhân tai biến do xuất huyết não chỉ tính bằng đơn vị phút. Chính vì vậy nguy cơ tử vong trong trường hợp này rất cao nếu không có biện pháp sơ cứu và cấp cứu kịp thời.

Tai biến mạch máu não

 Hai loại tai biến mạch máu não

2. Các dấu hiệu nhận biết tai biến mạch máu não

Bên cạnh nắm được thông tin tai biến mạch máu não là gì, việc nhận biết một số dấu hiệu bệnh sẽ giúp sớm có biện pháp can thiệp kịp thời:

Cơ mặt tê cứng, cười méo miệng, nói lắp

Tai biến khiến lượng oxy lên não không đủ do đó ảnh hưởng đến các dây thần kinh trên cơ mặt. Bệnh nhân sẽ bị tê liệt một phần hoặc một nửa mặt, nhiều trường hợp không cử động được. Khi yêu cầu bệnh nhân cười, nụ cười bị lõm đi so với bình thường, một nửa bên mặt bị xệ xuống thì nguy cơ bị tai biến rất cao.

Ngoài ra tai biến còn ảnh hưởng đến khả năng nói của bệnh nhân, cụ thể như nói lắp, nói không rõ chữ, nói ú ớ khó hiểu,...

Tai biến mạch máu não

Cơ mặt tê cứng, cười méo miệng là một biểu hiện của tai biến mạch máu não

Thị lực suy giảm, hoa mắt chóng mặt

Khi thiếu oxy lên não gây nên tình trạng thùy não bộ hoạt động kém dẫn khiến thị lực bị ảnh hưởng. Đây là dấu hiệu mà người xung quanh không phát hiện được, do đó nếu bản thân cảm thấy mắt nhòe đi, mờ dần thì phải báo ngay để có những biện pháp kịp thời.

Ngoài ra hoa mặt chóng mặt là tình trạng bình thường khi não không đủ oxy, nhưng hiện tượng này khá phổ biến trong đời sống hàng ngày, chính vì thế cần kết hợp thêm một số biểu hiện khác nữa mới đưa ra kết luận chính xác nhất.

Đau đầu

Một dấu hiệu của tai biến mà bạn cần chú ý là đau đầu dữ dội từng cơn, mức độ đau gia tăng theo thời gian. Cần đưa người bệnh đến viện ngay lập tức khi có biểu hiện trên để tránh tình trạng chết não.

Tai biến mạch máu não

Đau đầu dữ dội từng cơn cũng báo hiệu bạn bị tai biến mạch máu não

Bên cạnh những biểu hiện tiêu biểu như trên thì còn một số dấu hiệu như dáng đi bất thường, nấc cụt hoặc khó thở. Khi bản thân xuất hiện 2-3 biểu hiện như chúng tôi đã liệt kê ở trên thì bạn có nguy cơ cao bị đột quỵ. Điều cần làm là nhanh chóng đến bệnh viện để được can thiệp và cứu chữa kịp thời.

3. Cần làm gì để sơ cứu bệnh nhân tai biến?

Khi bệnh nhân bị tai biến thì người nhà phải biết một số thao tác cơ bản sau trong thời gian chờ đợi xe cứu thương:

- Báo cáo rõ tình trạng của bệnh nhân để các y bác sĩ chuẩn bị, điều này rất có ích trong quá trình cấp cứu.

- Nới lỏng quần áo, tư thế nằm nghiêng an toàn (hay còn gọi là tư thế hồi sức cấp cứu) là tư thế nhằm bảo vệ đường thở của bệnh nhân, cũng lựa chọn tốt nhất trong việc đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

- Nếu người bệnh bị nôn cần nghiêng đầu sang một bên để tránh tính trạng xộc lên mũi gây khó thở. Khi nằm ngửa, lưỡi sẽ bị tụt xuống họng, gây cản trở, bít tắc đường thở. Nếu bệnh nhân nôn trong khi đang nằm ngửa và ý thức không hoàn toàn tỉnh táo, sẽ dễ dàng hít phải các chất nôn vào phổi, gây tắc đường thở hoặc suy hô hấp, rất nguy hiểm. Do đó cần đặt bệnh nhân nằm nghiêng về một bên để các chất nôn dễ dàng thoát ra ngoài.

- Nếu có hiện tượng co giật ngay lập tức lấy que hoặc đũa có quấn vải để ngang giữa hai hàm răng, việc này giúp cho bệnh nhân không cắn vào lưỡi.

Khi bản thân xuất hiện những dấu hiệu của tai biến thì bạn nên đi khám sàng lọc nguy cơ đột quỵ để phát hiện sớm các mối nguy hại, giúp bảo vệ sức khỏe bản thân trong tương lai.

Hiện nay chúng tôi đang triển khai chương trình “Khám sàng lọc nguy cơ gây đột quỵ”, được thực hiện bởi đội ngũ chuyên gia thần kinh có nhiều năm kinh nghiệm tại bệnh viện. 

———————————————

PK NỘI TỔNG QUÁT BS MỘC THIÊN TÀI – LUÔN MẠNH KHỎE SỐNG BẰNG AN

🏥Địa chỉ 1: 337 An Dương Vương, P. An Lạc,TP.HCM

🌏Wedsite: https://bsmocthientai.blogspot.com/

☎️Hotline Tư vấn: 0923.220225

#khambenhtainha #suckhoe #COVID19#noitongquat#pkquan6

 

 


Nhiễm khuẩn huyết là gì? 

 Nhiễm khuẩn huyết là một bệnh lý nguy hiểm có tỉ lệ tử vong cao. Bệnh xảy ra do vi khuẩn hay virus, nấm giải phóng những hóa chất vào máu để chống lại các phản ứng viêm của cơ thể. Nhiễm khuẩn huyết thường tiến triển nặng nề và không có chiều hướng tự khỏi nếu không được xử trí điều trị kịp thời.

1. Nhiễm khuẩn huyết là gì?

Nhiễm khuẩn huyết hay nhiễm trùng máu (nhiễm trùng huyết) là tình trạng nhiễm trùng rất nghiêm trọng. Vi sinh vật gây bệnh không cư trú tại một cơ quan bị tổn thương ban đầu, mà theo đường máu lan đi khắp cơ thể.

Bệnh xảy ra do vi khuẩn hay virus, nấm giải phóng những hóa chất vào máu để chống lại các phản ứng viêm của cơ thể. Những phản ứng này tạo ra hàng loạt các thay đổi bên trong dẫn đến tổn thương các cơ quan như: gan, thận và khiến cơ thể suy yếu nhanh.

2. Nhiễm khuẩn huyết nguy hiểm như thế nào?

Khi bị nhiễm khuẩn huyết lượng lớn các hóa chất (từ các tác nhân gây bệnh) được tiết vào máu có thể gây ra chứng viêm mãn tính, dẫn đến tổn thương các cơ quan nội tạng. Cơ chế đông máu trong giai đoạn máu bị nhiễm trùng làm giảm lưu lượng máu di chuyển đến chân tay và các cơ quan nội tạng, dẫn đến việc cơ thể bị thiếu chất dinh dưỡng và oxy.

Nhiễm trùng máu đặc biệt nguy hiểm nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời dẫn đến các biến chứng nặng về tuần hoàn, rối loạn đông máu, hô hấp, suy gan thận và các tạng khác.

Ở trường hợp xấu nhất, nhiễm khuẩn huyết có thể gây ra chứng hạ huyết áp, hiện tượng này là "Sốc nhiễm trùng", có thể dẫn đến sự suy giảm chức năng một số bộ phận như phổi, thận và gan. Giai đoạn này bệnh trở nên rất nặng, có những trường hợp được điều trị tích cực, kháng sinh phù hợp nhưng bệnh nhân vẫn tử vong do sốc nhiễm trùng.

Diễn biến của sốc phản vệ
Nhiễm khuẩn huyết nặng có thể chuyển sang sốc nhiễm trùng và khiến bệnh nhân tử vong

3. Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn huyết

Một số đối tượng sau đây có nguy cơ nhiễm khuẩn huyết cao:

  • Người già, trẻ sơ sinh/đẻ non.
  • Người sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, sử dụng corticoid kéo dài, các thuốc chống thải ghép hoặc đang điều trị hóa chất và tia xạ.
  • Người bệnh có bệnh lý mạn tính, như tiểu đường, HIV/AIDS, xơ gan, bệnh van tim và tim bẩm sinh, bệnh phổi mạn tính, suy thận mạn.
  • Người bệnh cắt lách, nghiện rượu, có bệnh máu ác tính, giảm bạch cầu hạt.
  • Người bệnh có đặt các thiết bị hoặc dụng cụ xâm nhập như đinh nội tủy, catheter, đặt ống nội khí quản...

4. Tác nhân gây nhiễm khuẩn huyết thường gặp

  • Vi khuẩn Gram âm họ Enterobacteriaceae bao gồm: Salmonella, Escherichia coli, Klebsiella, Serratia, và các vi khuẩn Enterobacter, Pseudomonas aeruginosa, Burkholderia pseudomallei
  • Vi khuẩn Gram dương: Streptococcus pneumoniae, Staphylococcus aureus, Streptococcus suis...
  • Nấm: Candida, Trichosporon asahii
  • Các vi khuẩn kỵ khí thường gặp: Clostridium perfringens và Bacteroides fragilis.

5. Triệu chứng nhiễm trùng máu

  • Thân nhiệt trên 38 độ C hoặc dưới 36 độ C
  • Nhịp tim nhanh trên 90 nhịp/phút
  • Nhịp thở nhanh trên 20 nhịp/phút.

Các trường hợp nhiễm trùng máu nặng sẽ có các triệu chứng như:

  • Lượng nước tiểu trung bình giảm mạnh
  • Tình trạng tâm thần không ổn định
  • Giảm số lượng tiểu cầu
  • Khó thở
  • Loạn nhịp tim
  • Đau vùng bụng
  • Sốc nhiễm trùng.

6. Nhiễm trùng máu có lây không?

Đây là căn bệnh hoàn toàn không lây lan, đặc biệt không lây qua tiếp xúc. Bệnh chủ yếu là do vi sinh vật tấn công vào cơ thể, những ai có yếu tố nguy cơ cao nên chú ý phòng tránh các viêm nhiễm. Tóm lại, nhiễm trùng máu là bệnh không lây qua tiếp xúc thông thường.

7. Cách điều trị nhiễm trùng máu

Khám bệnh
Bệnh nhân cần được đến viện để được chẩn đoán sớm cấp cứu kịp thời

Ngày nay với sự tiến bộ của các phương tiện chẩn đoán, trang thiết bị hỗ trợ tim mạch, hô hấp và kháng sinh thì việc chữa trị nhiễm trùng máu đã có kết quả khả quan, giảm được tỷ lệ tử vong rất nhiều. Việc điều trị bao gồm cả công tác chẩn đoán sớm, loại bỏ nguồn gốc gây nhiễm trùng từ ổ nguyên phát, hỗ trợ tuần hoàn và hô hấp, điều chỉnh thăng bằng kiềm toan, chống rối loạn đông máu và kháng sinh.

Trước khi sử dụng kháng sinh nên cấy máu và các bệnh phẩm khác để làm kháng sinh đồ và chọn ra kháng sinh phù hợp. Tuy nhiên, không cần phải chờ kết quả của kháng sinh đồ mới bắt đầu điều trị mà nên dùng kháng sinh phổ rộng ngay sau khi lấy bệnh phẩm.

Nếu nhiễm trùng máu ở giai đoạn đầu và chưa ảnh hưởng tới các cơ quan quan trọng có thể sử dụng thuốc kháng sinh để điều trị nhiễm trùng tại nhà. Nhưng nếu không điều trị kịp thời, bệnh có thể phát triển gây sốc nhiễm trùng và thậm chí tử vong. Trong trường hợp này, bác sĩ sử dụng một số loại thuốc để điều trị nhiễm trùng huyết bao gồm kháng sinh qua đường tiêm tĩnh mạch để chống nhiễm trùng, thuốc vận mạch để tăng huyết áp, insulin để ổn định đường huyết, corticosteroid để kháng viêm và giảm đau.

Khi nhiễm trùng huyết trở nên nghiêm trọng, bệnh nhân cần được truyền dịch qua đường tĩnh mạch và dùng máy thở. Bác sĩ có thể tiến hành lọc máu trong trường hợp suy thận cấp bằng cách sử dụng thiết bị thay thế chức năng thận để loại bỏ chất thải nguy hại, muối và nước dư thừa từ máu. Một số trường hợp cần phải phẫu thuật để loại bỏ nguồn gốc của nhiễm trùng máu như phẫu thuật hút mủ từ áp-xe hay loại bỏ mô nhiễm trùng.

 TÌM HIỂU VỀ QUY TRÌNH KHÁM BỆNH TẠI NHÀ.

Dịch vụ khám bệnh tại nhà mang đến nhiều tiện ích tuyệt vời cho bệnh nhân và gia đình. Ngoài sự chủ động trong việc sắp xếp thời gian khám bệnh, gia đình và người bệnh còn có sự thoải mái trong suốt quá trình thực hiện dịch vụ.
Các bác sĩ khám bệnh tại nhà đã được chuẩn bị trước lịch thăm khám. Các Bác sĩ không phải chịu áp lực công việc với số lượng lớn bệnh nhân. Điều này hỗ trợ cho quá trình khám chữa bệnh của các Bác Sĩ được tận tâm hơn. Mặt khác, người bệnh không phải chịu đựng các yếu tố tác động bên ngoài như quá trình di chuyển mệt mỏi hay chờ đợi tới lượt khám. Ngoài ra, bệnh nhân cũng không gặp khó chịu tâm lý vì không gian ồn ào hay thiếu sự riêng tư cá nhân. Chính những điều này góp phần tăng chất lượng của việc chẩn đoán và điều trị tại nhà.
Quy trình khám bệnh tại Bệnh Viện.
Quy trình khám bệnh tại các bệnh viện hoặc cơ sở y tế thường được phân loại thành 2 hình thức. Khám bệnh có bảo hiểm y tế và khám không có bảo hiểm y tế.
Đối với người bệnh khám bảo hiểm y tế.
Bước 1: Đến khu vực khám bệnh và bốc số thứ tự khám.
Bước 2: Đến khu vực chuyên khoa, đăng ký yêu cầu khám, đóng phí khám bệnh và quay trở lại khu vực khám chuyên khoa chờ tới lượt khám.
Bước 3: Gặp Bác sĩ khám bệnh. Nếu trong quá trình khám có các yêu cầu xét nghiệm hoặc thực hiện các kiểm tra khác thì nhận giấy yêu cầu, đóng phí và tiếp tục đợi ở khu vực thực hiện xét nghiệm.
Bước 4: Quay trở lại phòng khám chuyên khoa, chờ tới lượt để được chẩn đoán kết quả hoặc các điều trị.
Đối với quy trình khám bệnh không có bảo hiểm y tế.
Người bệnh thường phải thực hiện các bước sau.
Bước 1: Nhận số thứ tự đăng ký dịch vụ.
Bước 2: Đến khoa cần khám bệnh, mua sổ khám bệnh, điền thông tin và đóng tiền khám.
Bước 3: Chờ tới lượt khám và thực hiện các xét nghiệm hoặc kiểm tra y tế nếu cần.
Bước 4: Nhận kết quả chẩn đoán hoặc đơn thuốc từ Bác sĩ khám bệnh.
Quy trình khám bệnh tại nhà.
Bước 1: Gọi điện thoại để đăng ký dịch vụ khám tại nhà. Quá trình đăng ký yêu cầu các thông tin cơ bản như mô tả tình trạng bệnh cần khám. Đăng ký thời gian thực hiện khám tại nhà.
Bước 2: Bác sĩ sẽ có mặt tại địa điểm khám theo đúng lịch hẹn. Các Bác Sĩ có đầy đủ dụng cụ kiểm tra cơ bản cho nhóm bệnh cần thăm khám. Đối với các yêu cầu thêm về xét nghiệm chuyên sâu, bệnh nhân sẽ được lấy mẫu và đưa đi phân tích tại bệnh viện. Kết quả xét nghiệm được trả về qua thư điện tử hoặc điện thoại.
Bước 3: Sau khi có đủ các thông tin chẩn đoán bệnh, Bác Sĩ sẽ trao đổi kết quả, cung cấp đơn thuốc điều trị, thay mặt bệnh nhân mua thuốc và giao thuốc điều trị tại nhà.
Bác sĩ theo dõi chuyển biến và hồi phục của người bệnh. Bác Sĩ sẽ có lịch liên lạc trở lại với bệnh nhân để thăm hỏi tình trạng và mức độ hồi phục sức khỏe. Thông thường là sẽ trao đổi thông tin với người bệnh qua điện thoại. Trừ khi hồi phục chậm hoặc được yêu cầu, Bác Sĩ sẽ đến trực tiếp để kiểm tra.
Các nhóm dịch vụ khám chữa bệnh tại nhà.
Việc phân loại nhóm bệnh để khám và điều trị tại nhà là rất quan trọng để đảm bảo hồi phục sức khỏe của bệnh nhân. Đối với các bệnh nguy hiểm, bệnh nhân sẽ được yêu cầu điều trị nội trú tại các Bệnh viện hoặc cơ sở y tế. Một số nhóm bệnh thông thường hoặc bệnh mãn tính có thể được khám và điều trị tại nhà thuận tiện.
Nhóm bệnh mãn tính có thể được theo dõi định kỳ và điều trị tại nhà. Các bệnh như: Bệnh tiểu đường, Huyết áp, Bệnh phổi, Gan – Thận,…
Nhóm hỗ trợ hồi phục sức khỏe. Bao gồm truyền dịch, chích thuốc theo đơn, chích thuốc bổ não, chích vitamin,…
Nhóm dịch vụ điều dưỡng có tay nghề. Thực hiện trực tiếp, và có sự giám sát của Y tá, Bác sĩ. Các công việc như cho ăn bằng ống, thay ống thông, quan sát đánh giá tình trạng bệnh nhân, chăm sóc vết thương…
Nhóm dịch vụ vật lý trị liệu. Hỗ trợ điều trị phục hồi sau chấn thương bao gồm tập đi – đứng. Hỗ trợ thực hành các bài tập lấy lại chuyển động, tập phục hồi chức năng…
Nhóm dịch vụ trợ lý y tế tại nhà. Thực hiện các công việc chăm sóc và vệ sinh cá nhân. Các công việc bao gồm giúp tắm rửa bệnh nhân, vệ sinh cơ thể, thay quần áo, khử trùng giường bệnh,…
Nhóm dịch vụ hỗ trợ kèm theo thuê các thiết bị y tế. Các thiết bị như máy thở ô xy, thiết bị tập hồi phục, xe lăn, xe tập đi…có thể được thuê đặt tại nhà riêng.
Chủ động nhờ chuyên gia hỗ trợ.
Việc chủ động gặp Bác Sĩ khám tại nhà trước khi có quyết định điều trị sẽ giảm bớt nhiều thời gian cho người bệnh. Các Bác Sĩ chuyên khoa nhiều kinh nghiệm, qua quá trình thăm khám, sẽ nhanh chóng phân loại đúng nhóm bệnh, đúng hướng điều trị. Bác sĩ cũng sẽ hỗ trợ để sắp xếp cho người bệnh đi khám và điều trị ở đúng các bệnh viện chuyên khoa giỏi, điều này sẽ giúp ích cho người bệnh rất nhiều.
Nhận được sự trợ giúp phù hợp và hiệu quả là điều mong mỏi của mọi người bệnh. Hiện nay, các dịch vụ khám chữa bệnh tại nhà được phát triển tạo ra sự thuận lợi cho nhu cầu chính đáng của người bệnh cần chăm sóc. Đặc biệt là giá thành của các dịch vụ cũng rất phải chăng, phù hợp cho đa dạng người bệnh cần điều trị.


Featured Post

  Bệnh học suy tim Định nghĩa Suy tim là trạng thái bệnh lý, trong đó cơ tim mất khả năng cung cấp máu theo nhu cầu cơ thể, lúc đầu khi g...